Author Archives: dangthiensonna

Thịt chuột Yên Thành

xx

Tôi chưa có điều kiện đi hết trong Nam, ngoài Bắc để coi người ta bắt chuột, làm thịt chuột và ăn thịt chuột như sách báo vẫn thường giới thiệu nên không dám chắc thịt chuột Yên Thành quê tôi là ngon nhất. Thế nhưng, nhìn cái cách người dân quê tôi bắt chuột, làm thịt chuột, rồi chế biến những chú chuột đồng thành món ăn hết sức cầu kì và bắt mắt, khiến khi thưởng thức món ăn “tiểu thỏ” này, một người khó tính trong thưởng thức ẩm thực như tôi cũng phải thốt lên rằng: “Ngon đáo để!”.

Cái danh xưng “Yên Thành thịt chuột” ban đầu nghe khó lọt tai, nhưng về sau càng thấy tự hào vì quê mình có món ngon nổi tiếng, được lên ti vi, khắp các báo lớn, báo nhỏ đưa tin, viết bài rầm rộ. Và giờ thì “Yên Thành thịt chuột” đã thành câu cửa miệng của người dân xứ Nghệ khi nhắc đến huyện lúa. Nói “Yên Thành thịt chuột” là nói chung cho cả huyện, chứ trên thực tế, nhiều xã chỉ là hưởng xái cái tên gọi ấy mà thôi. Bắt chuột có nghề phải về những vùng quê như Đức Thành, Mã Thành, Phú Thành… Như làng Thọ Bằng – Đức Thành, săn chuột đã trở thành truyền thống của nhiều gia đình. Nói như vậy để thấy rằng, có được món ngon cũng phải có nghề, có mẹo chứ không phải ai cũng làm được. Có người chỉ đi săn chuột một buổi đã bắt được năm, bảy chục con, có người rong ruổi cả ngày chỉ bắt được vài ba con lèo tèo.

Chuột nhiều nhất là sau mùa gặt. Lúc này, chuột no và béo vàng nên thường chui vào những lùm cây lớn ở giữa đồng hoặc đào hang ở những bờ ruộng… Khi phát hiện ra nơi ẩn náu của chúng, lấy những cái sọc đan bằng tre hoặc bằng sắt ngụy trang ở các lối mòn mà chuột đi nhiều đã tạo nên, rồi thợ săn dùng rơm khô đốt lửa, un khói ở hang chính, khói cứ thế len lỏi vào khắp cùng hang, ngách, chuột không chịu được khói chạy ra và mắc vào những chiếc sọc. Đối với những con chuột cố thủ trong hang không chịu ra, thợ săn dùng nước đổ ngập hang, chuột sẽ không thở được, ngóc đầu lên, lúc này chúng uống nước no nên rất dễ bắt, người thợ chỉ việc nắm tai lôi nó lên một cách dễ dàng. Để biết những hang, hốc có chuột hay không, chỉ cần gọi thêm một chú chó đi săn cùng. Với khứu giác tuyệt vời của họ nhà chó, chỉ vài giây là chúng có thể xác định cho gia chủ những nơi có chuột trú ngụ. Chuột bắt xong xâu vào những chiếc lạt tre, khi xâu không làm chuột chết, để khi làm thịt chuột được tươi, thơm. Nếu bắt được nhiều thì những người thợ săn bỏ vào lồng sắt mang đi bán cho dân nhậu, hoặc những đại gia sành ăn món “tiểu thỏ”. 

Thịt chuột được chế biến bằng nhiều món. Chuột thui rơm cho đến khi vàng ươm, lột da xong, chặt thành từng miếng, ướp sả ớt rồi rang muối, hoặc chiên giòn ăn rất vào cơm. Chuột nấu giả cầy, kho tàu, hoặc rô ti thì ngon tuyệt tác. Giữa ngày mưa bưng bát cơm dẻo thơm ăn với thịt chuột nấu giả cầy mới sướng làm sao? Chuột ướp gừng, kẹp lá chanh nướng rồi chuột nướng chao, chuột xào lăn là những món khoái khẩu của dân nhậu. Nhưng ngon nhất, có lẽ là món chuột đồng úp nồi đất nung. Chuột đồng làm sạch để nguyên con đem ướp muối, tiêu, ớt, sả, ngũ vị hương, bột ngọt khoảng 30 phút cho gia vị ngấm vào thịt; sau đó dùng que xiên chuột, cắm đứng những que xiên chuột lên, lấy nồi đất úp ngược miệng xuống đất, nếu úp nhiều nên mua những chiếc nồi đất chuyên dụng ở Trù Sơn, Đô Lương, bên ngoài dùng rơm khô, nhất là rơm của cây lúa nếp, đốt đến khi mùi thơm của thịt chuột bay ngào ngạt thì mở nồi ra. Ăn chuột úp nồi đất một lần mà nhớ cả đời.

Ban đầu, tôi cũng rất ghê, khi được mọi người rủ ăn thịt chuột. Nhưng chỉ sau một lần tôi bị bạn đánh lừa thịt chuột là thịt thỏ, tôi gắp nhầm rồi mê nó đến bây giờ. Mỗi lần về quê không chè chén với bạn bè một chầu thịt chuột xem ra chưa trọn tình, trọn nghĩa. Suốt ngày, ti vi ra rả thịt động vật thối, nội tạng ôi thiu tuồn vào Việt Nam hàng chục tấn, nghe thấy mà cứ thương thương dân mình phải ăn những thứ ấy. Nhưng khổ nỗi có nhiều người mè he, khi nghe người khác kể chuyện ăn thịt chuột thì tỏ ra không hài lòng và kinh tởm. Đó âu cũng là cái biểu hiện quan điểm của từng người. Nhưng tôi đồ rằng, những tín đồ đam mê ẩm thực, nếu một lần được ăn món thịt chuột đồng Yên Thành quê tôi họ sẽ sẵn sàng bầu chọn nó vào tóp ten những món ăn ngon nhất.

Vừa rồi tôi đọc báo Sài Gòn tiếp thị thấy có hẳn một phóng sự về chuột đồng Yên Thành vào Nam. Thế là “cụ tý” không chỉ là món ngon quê nhà mà bây giờ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu làm giàu cho quê hương. Gấp tờ báo vào túi, nhíp một ngụm cà phê, tôi cười tủm tỉm với cái tin đáng mừng cho người dân quê quanh năm úp mặt vào đất, ngửa lưng lên trời.

————————-

Trính trong tuyển tập tản văn Đường về xa lắm – Đặng Thiên Sơn 

Advertisements

Tuổi thơ bên mẹ

cả nahfMột tay mẹ bế em Phong, một tay mẹ dắt tôi bước qua con mương nhỏ trước nhà để đi tắt qua cánh đồng sang phía nhà trẻ. Tôi bước trật chân, té ướt nhèm. Mẹ kéo tôi lên khỏi vũng bùn, đặt em Phong ngồi lên bờ, rồi mẹ xuống mương mò dép cho tôi. Suốt chặng đường đưa em đi nhà trẻ, mẹ mắng nhiếc tôi: “Đi với chả đứng. Được đôi dép cũng để cho đứt. Mai, con lấy gì mà đi học.” Mẹ quan tâm đến đôi dép bị đứt hơn là việc người tôi đang nhơ nhuốc bùn đất. Cũng đúng thôi, những đứa trẻ quê như tôi ngày ấy, té là bình thường, có đau quá thì ré khóc một lúc rồi tự mình im, tự mình thương lấy mình, lúc nào quên thì lại chạy nhảy như chưa hề bị té. Còn để có một đôi dép đi học, mẹ phải bán cả gánh khoai mới mua được. Mà chợ có gần gì cho cam, phải đi bộ tới nửa ngày trời, mười ngày mới có một phiên, mẹ tiếc đôi dép là phải.

Em Phong lên lớp lá thì em Hải chào đời. Tôi lúc ấy cũng đã vào lớp hai. Hành trang đến trường mà mẹ sắm cho tôi là một chiếc túi cước, vài ba tập vở, bộ quần áo mới và đôi dép Tiền Phong. Đôi dép bị đứt do bị té khi cùng mẹ đưa em Phong tới nhà trẻ năm nào được cha tôi hàn chi chít những miếng nối, chân tôi lớn không đi được nữa nên chuyển quyền sở hữu cho em Phong. Tính ra em Phong luôn thiệt thòi hơn tôi. Quần áo tôi mặc chật, quăn như lò xo lại chuyển giao cho em. Sách vở em Phong cũng phải học lại của tôi. Thế nhưng, chẳng bao giờ em Phong đòi mẹ mua đồ mới. Vì thời ấy, chuyện em mặc đồ cũ của anh chị là mặc nhiên, nhà ai ở quê tôi cũng thế, chứ không riêng gì nhà tôi.

Từ khi em Hải chào đời thì tôi trở nên vất vả hơn. Dịp nghỉ hè, mẹ cùng mấy cô trong làng đi buôn xa. Cha chúng tôi thì năm thì mười họa mới được nghỉ phép một lần để về nhà. Nên, mọi việc sinh hoạt của anh em tôi trong một ngày đều phải tự tay lo liệu lấy. Sáng, ngủ dậy, tôi lấy rổ khoai luộc mẹ gác trên cũi xuống, rót một ít mật mía ra bát rồi gọi em Phong dậy ăn để đi nhà trẻ. Em Phong ăn xong, lếch thếch cầm chiếc võng vải mẹ đã xếp sẵn đặt trên đầu giường đến nhà trẻ. Tôi lấy bát cháo trắng mẹ đã quấy nhừ ra hâm lại cho nóng, rồi đút cho em Hải ăn. Khi em Hải thiu thiu ngủ trên võng, tôi tranh thủ đi cắt rau dền vào bằm để nấu cám cho lợn, quét dọn nhà cửa…

Đang loay hoay để chuẩn bị cơm chiều thì em Phong mếu máo chạy về vừa khóc, vừa gọi tôi: “Anh ơi! Bọn nó đánh em”. Tôi bỏ bếp chạy ra hỏi em: “Thằng nào?” Em phong chỉ tay về phía nhà thằng Trọng Diệc. Thế là hai anh em tôi chạy qua ngõ nhà nó, gọi nó ra, hai phe lao vào nhau đấm tới tấp. Đến khi thằng Trọng Diệu chịu thua khóc ré lên, mẹ nó cầm chiếc roi tre bước từ trong nhà ra thì tôi và em Phong cắm cổ chạy về nhà. Nồi cơm nấu dở đã khê ròm. Em Hải thức giấc khóc lả trên võng. Tôi sợ quá, bỏ bếp bế em vào lòng. Ba anh em tôi dắt nhau ra ngõ ngóng mẹ.

Càng về chiều, em Hải khát sữa nên khóc càng to. Em Phong thì cái trán đánh nhau với thằng Trọng Diệc cảy đỏ mếu máo. Và dĩ nhiên là tôi cũng không cầm được nước mắt nên thút thít theo các em một cách ngon lành.

Mẹ vừa thả chiếc xe thồ xuống sân, sà tới ôm em Hải vào lòng cho bú. Sau khi cho em Hải bú xong, đến lượt mẹ bắt tôi và em Phong lột quần nằm lên tấm phản. Rồi mẹ lấy chiếc roi tre mà cha đã róc sẵn gác trên chái bếp đánh tôi và em Phong. Em Phong thì đã lường được hậu quả của trận roi từ khi đánh nhau với thằng Trong Diệc, còn tôi thì biết ngay thể nào cũng bị mẹ đánh khi nồi cơm khê ròm và em Hải đói lặc. Nên cả hai anh em tôi mấm môi chịu trận. Nước mắt chúng tôi rơi thấm ướt cả mặt phản. Cho đến khi em Phong không chịu được đau nữa, khóc òa lên, mẹ mới thôi phát roi vào mông chúng tôi. Đêm ấy, mẹ thức cả đêm để theo dõi sức khỏe em Hải. Mẹ cũng không quên thoa dầu cho tôi và em Phong. Tôi nghe mẹ hát ru em Hải: “Anh em như thể tay chân…”

Đi dọc triền tuổi thơ để hồi tưởng những ký ức của anh em tôi với mẹ thì sẽ không có giấy mực nào ghi hết. Trong muôn vàn kỷ niệm giữa anh em tôi với mẹ thời thơ bé, tôi nhớ nhất lần làm đứt dép khi lội qua mương và buổi chiều bị mẹ đánh đòn. Giờ, tóc mẹ đã hoa râm, da mẹ đã mồi, trên khuôn mặt mẹ hiện rõ từng nếp nhăn… Tôi chỉ ước ao mẹ tôi luôn mạnh khỏe để anh em tôi vịn vào mẹ mà lớn lên, mà đối mặt với những tháng ngày dài phía trước.

Đặng Thiên Sơn

 

Nhớ sấm

sssssHai đứa ngồi cà phê ở một góc quán quen. Mây đen kéo về ùn ùn khiến trời tối sẫm. Cả một góc phố trở nên nháo nhác. Bạn nâng li cà phê lên nhíp một ngụm dài rồi buông một câu chưng hửng: Nhớ sấm! Mình nhìn vào mắt bạn thật lâu và như đọc được tâm trạng của bạn lúc ấy nên mình lái cuộc chuyện cuối ngày sang chủ đề sấm. Bạn như bắt được “sóng” nên thao thao bất tuyệt về những ký ức với sấm nơi miền Trung nghèo quanh năm nắng gió đã cưu mang bạn những tháng ngày thơ trẻ.

Sấm trong ký ức, với bạn với mình là thứ âm thanh ghê rợn. Cuối những ngày hè oi bức, mây đen kéo về dệt kín cả trời quê. Cảm giác cứ như trời sắp đổ ập lên làng mình. Rồi gió nổi. Chớp rạch xanh như mắt mèo. Và những đợt sấm long trời, lở đất đua nhau gầm gừ suốt cả mấy tiếng đồng hồ. Cho đến khi nước mưa trên sân rút hết, đám lúa lép dạt về một góc sân thì sấm mới chịu chạy qua làng bên.

Bạn kể, mẹ bạn sợ sấm lắm. Nên cứ hễ thấy trời bắt đầu lót mây làm ổ cho giông lốc là tuyệt đối mẹ bạn không cho bất cứ đứa nào bước ra khỏi nhà. Ngày mình còn ở quê, mẹ mình chẳng mấy khi ở nhà vào những buổi chiều tối, vì mẹ còn bận với gánh hàng xén nơi chợ chiều nên chẳng ai cấm đoán anh em mình ra khỏi nhà khi có giông, lốc. Nên khác với bạn, cứ trời đổ giông là mấy anh em mình cởi trần trùng trục tắm mưa, đếm sấm xen quả nào nổ to hơn, giòn hơn, rồi cười ha hả.

Có lần sét đánh trên ngọn cây bạch đàn sau vườn, tiếng sấm gần đến mức thằng út giật bắn mình té xuống sân trợt cả đầu gối. Từ đó anh em mình không tắm mưa nữa. Mỗi lần trời sắp đổ mưa là anh em mình kéo nhau chạy lên nhà bà nội trú ẩn. Bà bày cho mấm môi ba lần mỗi khi có chớp để sấm sợ không phát thành tiếng. Thế là cứ thấy chớp anh em mình lại đua nhau: bập, bập, bập… Và cảm giác sợ hãi cũng tan biến. Rồi biết bao mùa sấm cũng đi qua.

Mình nói với bạn: Giữa chốn thị thành này phải thật để ý lắm mới nghe được tiếng sấm. Bởi tiếng sấm đã bị những âm thanh công nghiệp lấn át. Nhiều đêm khuya khoắt đang nằm liu riu bỗng nghe tiếng sấm vọng tới bên tai, thế là choàng tỉnh và thao thức cả mấy tiếng đồng hồ. Bạn cười cười tiếc nuối. Rồi bạn lại thở dài: Không có tiếng sấm nổ rền để mà giật mình như ngày còn bé thơ, nhưng có nhiều âm thanh khác đã khiến ta chết lặng. Cách nay mấy hôm bạn phải mất cả ngày mới lấy lại được thần hồn sau khi giật mình vì cú va chạm của hai chiếc xe máy chạy ẩu nên tông nhau ngay trước đầu xe bạn mấy chục mét.

Cả mình và bạn có cả một buổi chiều để nhớ sấm. Để cười – nói, buồn – vui với sấm. Thế mới biết sấm đã ăn sâu vào tiềm thức những con người đã lớn lên từ quê kiểng như mình và bạn. Thứ âm thanh rền vang, chát chúa vào những chiều mưa năm nào cứ vọng vang đến tận bây giờ.

Sắp sang tháng năm rồi, quê mình và quê bạn đang bước vào mùa sấm. Không biết có còn ai bày cho lũ trẻ quê mấm môi ba lần khi tia chớp lóe lên để sấm sợ không phát thành tiếng kêu nữa không? Bỗng mình lại mấm môi: bập, bập, bập… giữa chiều mưa thành phố. Bạn nhìn mình cười hiền dưới cơn giông. Li cà phê chiều đã cạn.

Đặng Thiên Sơn

Đợi người về mùa cải

cải

 

 

 

 

 

 

Sắc cải vàng đã bung đầy triền nhớ

Nỗi mong chờ cũng sắp tròn năm.

 

Mùa đông vẽ sắc trời đen xám

Sương rơi dày phủ trắng cả màu len.

 

Em không về? Hay em không về nữa?

Chú sẻ ri trú rét ở phương nào?

 

Bên kia bến con đò nằm đợi khách

Dòng sông buồn nên sóng cũng thờ ơ.

 

Ai quang gánh bước ra ngoài buổi chợ

Ngỡ là em… gió thốc mắt cay xè.

 

Đặng Thiên Sơn

Nằm giường lá chuối

118516_621Hôm rồi về quê gặp lại cái Uyên, con bé láng giềng năm nào. Giờ nó đã nặng gần 60 kg, dáng cao dong dỏng, tràn trề xuân sắc. Hai đứa ghé vào quán nước chè của bà cụ Huấn nơi gốc đa đầu làng uống nước, ngồi kể hết chuyện trên trời, dưới đất. Và tất nhiên là không quên cái chuyện chơi trò đám cưới nơi bờ rào có hàng chuối xanh mơn mởn giữa nhà tôi và nhà nó.

Ngày ấy cái Uyên là xinh gái nhất trong đám trẻ xóm tôi. Ngoài cái Uyên còn có con Thịnh Ghẻ, con Hồng Tóc Hoe. Con trai thì có thằng Trọng Diệc, thằng Thành Béo, thằng Thành Con và tôi. Tôi tuy không đẹp trai, lại gầy gò, thế nhưng có lợi thế là bố tôi làm trưởng thôn. Con của trưởng thôn là oai lắm. Đứa nào cũng sợ. Nhà tôi lại có cái Ti vi đen trắng nên bọn nhỏ xóm tôi rất nể. Đứa nào ăn hiếp tôi thì coi như đêm ấy đừng hòng mà đến nhà tôi xem Ti vi được. 

Những lần chơi trò đám cưới, thể nào tôi cũng được cặp đôi với con Uyên. Nó rất tự hào vì được lấy tôi làm chồng, nhà giàu có Ti vi, bố lại làm trưởng thôn. 

Mỗi buổi trưa chúng tôi tổ chức đám cưới cho một đứa và cứ xoay vòng như thế ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Đám cưới của tôi và con Uyên là hoành tráng nhất: Cô dâu đội trên đầu một vòng hoa trắng được kết từ loại hoa của cây trứng gà, mặc chiếc váy lá dừa tua tủa. Chú rẻ đội chiếc mũ kết bằng lá mít vàng, mặc bộ áo kết từ lá mít xanh. Xe hoa là chiếc mo cau mới rụng trang hoàng các loại hoa xung quanh. Cô dâu ngồi lên mo cau, chú rể lấy hết sức kéo cô dâu đi một vòng xung quanh bờ ao, quay về nơi bờ rào có hàng chuối xanh mơn mởn là dừng lại. 

Sau khi đưa cô dâu về tới nhà chồng, thằng Thành Con tuyên bố lý do. Sau đó mời con Thịnh Ghẻ lên hát. Phải nói con Thịnh Ghẻ ngày ấy còn nhỏ mà hát bài “Tình thắm duyên quê” rất hay. Tiếp theo là thằng Thành Béo lên thay mặt cho họ nhà gái giao dâu. Nó phát biểu giọng run run như người già. Kết thúc phát biểu nó đọc thơ. Thằng Trọng Diệc thay mặt cho họ nhà trai lên nhận dâu. Dưới hôn trường mấy đứa còn lại ngồi vỗ tay, ăn hột mít luộc, lạc rang và đủ thứ quả…

Khi hôn trường ra về, chú rể và cô dâu động phòng hoa chúc. Chiếc giường là hai tàu lá chuối ghép lại. Hai đứa nằm ngửa mặt lên trời, bàn chuyện sinh con cái. Ở phía ngoài bờ rào những đứa khác tổ chức chơi trò mua bán. Tiếng thằng Thành Béo nạt nộ vì thằng Trọng Diệc ăn quỵt ba mươi đồng tiền lá mít. Cuộc sống của một xã hội người lớn được chúng tôi thu nhỏ lại trong một góc bờ rào. Khi tiếng mẹ gọi vọng sang, đứa nào đứa nấy chạy toán loạn về nhà. Có lần mải mê quá tôi và con Uyên say sưa ngủ trên giường lá chuối. Mà nghĩ ngày ấy thằng Thành Béo cũng ác thật, nó về mách với mẹ tôi. Khiến bà chạy ra bờ rào thấy tôi và con Uyên đang ôm nhau ngủ, bà sẵn chiếc roi trên tay quất tới tấp vào mông tôi, xoa dầu Bạch Hổ bảy ngày mới khỏi…

Con Uyên bảo, nó đang bán thịt lợn ở chợ Tân Thành. Con nó đã lên 6. Còn tôi thì vẫn mài đụng quần trên giảng đường Đại học để kiếm cái văn bằng hai. Nó khoe với con nó: Ngày xưa mẹ làm vợ chú này. Giờ chú ấy vẫn còn đi học. Thằng con nó nhìn tôi và hỏi: Chú được mấy bé ngoan rồi? 

Đặng Thiên Sơn

Thuyền giấy

image002

“Trưa hè trên bến sông quê/ Ta – em thuở ấy chưa hề biết yêu/ Trời cao thả những cánh diều/ Dưới sông thuyền giấy xuôi chiều trôi đi/ Em nhìn ta chẳng nói gì/ Ta nhìn em cứ lầm lì lặng thinh…” Những ngày thơ trẻ đã xa mù khơi. Nhưng những kỷ niệm xưa cũ vẫn còn vẹn nguyên trong trí nhớ. Nhiều đêm thức giấc, nỗi nhớ khiến lòng lại ngân lên những câu thơ. Và những câu thơ trên tôi viết trong một đêm như thế. Những con thuyền giấy chênh chao trên mặt nước, khắc ghi tình bạn vững bền.

Những trưa hè, trời miền Trung đang nắng bỗng đâu mưa giông ập đến bất ngờ. Mưa qua, những ruộng nương ngập nước mênh mông. Nước nhóm lại thành dòng chảy cuộn xiết như những con sông thu nhỏ. Chúng tôi đánh trần, tắm mưa gọi nhau ý ới. Cô bé nhà bên đứng trên bậc thềm thả những chiếc thuyền giấy lênh đênh trên mặt sân. Đôi mắt trong veo dõi theo những con thuyền xuôi dòng trôi về đầu ngõ. Tôi tinh nghịch chạy ra giành lấy chiếc thuyền đang trôi. Vụng về thế nào để tay nhấn chìm chiếc thuyền xuống nước sâu, rã ra từng mảng giấy. Cô bé giận tôi suốt một mùa hè.

Những buổi chiều mùa thu, toán trẻ con chúng tôi rủ nhau đi thả thuyền ở bến ao hợp tác xã. Thuyền của tôi được gấp bằng giấy đỏ, xung quanh trang trí hoa văn hình ca rô, cánh buồm được viết bằng chì màu dòng chữ “cập bến vinh quang”. Đã hết mùa hè nên cô bé nhà bên thôi không còn hờn tôi nữa, cũng chạy theo thả chiếc thuyền màu xanh với dòng chữ “mộng mơ” được ghi trên cánh buồm. Khi gió lặng những chiếc thuyền đứng im trên mặt nước. Bất giác chú rô phi nổi lên đớp gọng vó, khiến sóng đánh những chiếc thuyền của chúng tôi ngả nghiêng. Trời càng về chiều thuyền càng trôi ra xa khiến đứa nào cũng lo thuyền của mình đi lạc, hoặc bị nhấn chìm. 

Đợi mãi thuyền vẫn không cập bờ, cô bé nhà bên rưng rưng nước mắt. Tôi ga lăng bơi ra giữa ao vỗ sóng lùa những chiếc thuyền vào bờ. Thằng Tí Hôi lắc xa lắc xắc khiến những chiếc thuyền ngả nghiêng rồi chìm sâu xuống đấy nước, đã bị tôi cho uống một trận nước ao căng bụng, khóc nức nở chạy về mách mẹ. Cô bé nhà bên tiếc chiếc thuyền màu xanh của mình bị thằng Tí nhấn chìm mà đứng trên bến ao cho đến khi tôi mang từ nhà ra tặng chiếc thuyền màu xanh mới gấp xong mới chịu về nhà. 

Cũng từ hôm ấy, thằng Tí Hôi không được chơi chung với tôi và cô bé cạnh nhà. Trên bến ao hợp tác chỉ còn hai đứa chiều nào cũng mang thuyền ra thả xuống mặt ao, rồi thả chân xuống nước đạp sóng cho thuyền trôi ra xa hơn. Hai đứa lích rích bên nhau suốt cả buổi chiều. Mỗi lần chiếc thuyền màu xanh đấu đầu chiếc thuyền màu đỏ, cô bé nhà bên lại bẽn lẽn nhìn tôi rồi vội ngó lơ qua chốn khác…

Chúng tôi lớn khôn và xa dần những trò chơ thơ trẻ. Để: “Chiều nay về lại quê nhà/ Nghe tin em đã lên phà qua sông/ Giờ em hạnh phúc bên chồng/ Ta con thuyền giấy về không giữa dòng.”

Đặng Thiên Sơn

Đi thi…

Chiều, mẹ sảy lại nếp và đậu đỏ để sẵn ra chiếc rá nhỏ. Trước khi đi ngủ mẹ cho vào nước ngâm cho nếp và đậu mềm ra để khi hông xôi chín nhanh và đều. Cha suốt đêm không ngủ văn vê nhúm thuốc lào ngồi nhả khói lên trời, lâu lâu lại tới bàn thờ đốt nhang thì thầm với nội. Vẫn biết phải ngủ sớm để hôm sau có sức làm bài tốt hơn, nhưng tôi vẫn chưa yên tâm với những kiến thức mình nắm chắc trong đầu. Vì vậy mà phải tới gần sáng tôi mới chợp mắt được một lúc.

Mặt trời nhô cao khoảng một cây sào thì mẹ kêu tôi dậy. Cha kỳ cọ chiếc cánh cúp 81 sạch sẽ hơn. Mùi khói xôi từ nhà bếp phả ra thơm phức. Tiếng chặt thịt gà lộp cộp cùng với tiếng cười nói của hai thằng em vọng ra từ nhà dưới. Tám giờ sáng, mâm cơm đã tươm tất, cả nhà ngồi quây quần ăn cơm để tôi và cha lên đường xuống Vinh kịp buổi chiều lo chỗ ăn, chỗ nghỉ, để sáng hôm sau còn đến điểm thi làm thủ tục.

Hành lý của cha con tôi chỉ vài ba bộ quần áo, những cuốn sách mà tôi cảm thấy cần thiết phải mang theo. Mẹ đã chuẩn bị cho tôi nào thuốc đau bụng, dầu gió để sẵn trong ngăn cặp. Tôi lại từ đường đốt nhang cho ông bà rồi chào mẹ và các em lên xe đi thi.

Trên đường từ nhà xuống Vinh cha chạy xe rất cẩn thận. Vừa đi hai cha con vừa nói chuyện. Cha căn dặn tôi tường tận từng vấn đề: cách đi đứng, nói năng và cả đối nhân xử thế với bạn bè, thầy cô ở trường thi… Tôi thấy mình thật nhỏ bé trước những lời căn dặn của cha.

Cha con tôi xuống tới Vinh thì trời vừa đứng bóng. Thành phố người xe qua lại đông kịt. Tạt vào một quán nước mía sát công viên Hồ Gon ngồi nghỉ mát. Sau đó thì đi tìm chỗ trọ.

Bốn ngày đi thi với tôi là cả một trời kỷ niệm. Tôi được quen thân những người bạn mới, được đón nhận tình cảm thương yêu của cha, của những tình nguyện viên và cả gia đình người chủ trọ… Với quyết tâm phải đậu bằng được Đại học, tôi đã vượt qua những môn thi bằng khả năng và sự tự tin vào chính mình. Những buổi thi xong ra nhìn thấy cha đứng chờ trước cổng trường trong lòng tôi thật hạnh phúc…

Chiều nay, ngồi cà phê quán cóc, thấy những bạn trẻ xuống phố đi thi, mắt nhìn ngơ ngác; thấy những ông bố, bà mẹ áo nâu, nón lá đưa con đi thi tôi lại nhớ đến kỷ niệm một thời lên Kinh ứng thí của mình. Và tôi nhớ tới cha. Nhớ chén xôi nếp hông với đậu đỏ của mẹ. Nhớ tới những xúc cảm mà tôi đã trải qua cách nay đã 9 năm rồi.

Đặng Thiên Sơn

Mùa rớ đêm

hoxuanhuong

Tháng năm, nước ở các hồ chứa và khe suối cạn xuống sát đáy, nhiều cồn bãi nhô lên phơi mình dưới trăng. Đó cũng là lúc mùa rớ đêm bắt đầu. Tuổi thơ tôi đã có nhiều đêm theo mẹ đi cắt rớ tới tận khuya lắc mới về nhà.

Mẹ chuẩn bị cho mẻ rớ đêm từ lúc mặt trời bắt đầu xuống núi. Công việc đầu tiên mà mẹ làm là rang cám cho tới khi cháy vàng, thơm lừng làng trên, xóm dưới rồi cho vào ít nước để làm thính. Cám rang làm thính hạt cám không được mịn và phải trộn với một ít mằn thóc để khi thả xuống nước không tan ra nhanh và vung vãi ra ngoài rớ. Tiếp theo, mẹ kiểm tra lại cần rớ, gọng rớ và vải rớ xem có bị rách không. Vì chỉ cần vải rớ rách một lỗ nhỏ bằng ngón tay là tép có thể lọt ra ngoài.

Vải dùng để làm rớ phải có màu nâu sẫm, gần giống với màu bùn, phần lớn là những cái màn cũ được đưa ra tận dụng. Bốn góc của tấm vải được buộc chặt vào bốn gọng tre.

Cha tôi cũng góp phần không nhỏ để mẹ có những chiếc rớ bền và dẻo. Cha chọn những cây tre vừa già, bên trong không đặc ruột, các mắt tre cách nhau hơn một gang tay để làm gọng rớ. Gọng rớ được vót trơn nhẵn, dài khoảng 2,5 mét. Để gọng rớ bền và dẻo, dùng được lâu thì thường tre dùng để vót gọng được ngâm dưới bùn khoảng nửa năm.

Nơi đặt rớ là những vùng nước sát bờ, người đi sớm thì chọn được chỗ trâu mới tắm buổi chiều, hoặc ở nơi gần các bến giặt, bến rửa cỏ, những nơi ấy tôm tép thường dạt vào ban đêm để tìm thức ăn rơi vãi và bám vào vách đá cho tới tận sáng hôm sau.

Mỗi mẻ rớ được cất lên cách nhau chừng 30 phút. Khi cất rớ phải nhẹ nhàng nhưng thật nhanh để tôm, tép không bật ra ngoài. Lúc giũ tôm, tép vào rổ cũng phải thật khéo léo để không để sót con nào còn bám trên rớ. Rổ đựng tép được ràng một lớp cành ổi, cành xoan… để tép không bật ra ngoài. Những mẻ rớ đêm cuối cùng giơ lên là lúc trời đã sang canh, trăng xuống dần phía sau núi. Mẹ tôi thu dọn đồ nghề và gọi tôi dậy về.

Những chiến lợi phẩm mà mẹ tôi có được sau những mẻ rớ đêm đủ các loại: tôm, tép, cá mại, cá rô, cá thia lia, cá cánh cam, cá cấn, cá bống, cua và muỗi mắt. Tôi thường dõi đèn cho mẹ nhặt rác và muỗi mắt. Xong đâu đấy, mẹ nấu một ít tôm, tép còn tươi chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, số còn lại được đổ vào chiếc nia, chờ sáng mai nắng lên đem phơi để nấu canh chua ăn dần…

Bây giờ, quê tôi thi thoảng vẫn còn những người cắt rớ đêm, nhưng tôm, tép không còn nhiều như xưa nữa. Những người cắt rớ đêm hôm nay cũng không còn gọi nhau ý ới, xin thính, mượn cần rớ… Vì họ là những mảnh đời quá nghèo khó, thui thủi trong đêm kiếm sống qua ngày. Xa lắm rồi cái thời rớ đêm trở thành mùa rớ như tôi vẫn nhớ.

ĐẶNG THIÊN SƠN

 

 

Dắt nhau đi hết buổi chiều

cả nahfNhà mình có ba anh em. Mẹ sinh mình vào mùa thu năm 1983. Hồi còn nhỏ mình ốm yếu nên cô giáo cho ở lại vỡ lòng một năm, năm sau “cứng cáp” sẽ lên lớp một. Vì vậy, cô giáo ghi vào học bạ mình sụt đi một tuổi. Thành ra giấy chứng minh thư mình sinh năm 1984. Em trai kế mình sinh năm 1986 và em trai út sinh năm 1988. Ba anh em, đứa lớn cách đứa bé năm tuổi, nên khi mình biết giữ em thì thằng út bắt đầu chập chững tập đi. Anh em có nhiều kỷ niệm thời tuổi thơ mà đến bây giờ vẫn còn nhớ như in. Nhưng có lẽ chuyến đi lạc của hai cậu em trai mình là một trong những kỷ niệm nhớ nhất.

Hôm ấy mẹ đi chợ xa, mình ở nhà trông em. Giờ trưa tới, mình ra sau nhà cắt rau dền cho heo. Hai em vẫn chơi dưới gốc dừa trước nhà. Thế nhưng, khi mình làm xong công việc quay vào thì không thấy hai em đâu nữa. Lúc này mình chỉ biết khóc mếu máo đi tìm khắp nơi. Mình chạy qua nhà nội để thưa, nội báo cho mọi người đi tìm. Nhà gần rừng núi nên mọi người phải chia thành nhiều ngả để tìm em. Nỗi lo lớn nhất là chỉ sợ em ra ao chơi rồi đuối nước…

Mọi người đang tóa hỏa đi tìm thì mẹ dắt hai em về. Bắt hai đứa nó nằm trên tấm phản rồi dùng roi tre đánh rất đau. Hai đứa khóc ré lên nhưng không dám đứng dậy. Mình cũng khóc theo em. Mình đã lớn, mẹ không đánh mà chỉ mắng. Đến khi mẹ xuống bếp thổi cơm thì bảo mình lấy dầu lên thoa cho em.

Mấy hôm sau, ông bác họ làng bên sang chơi, mình mới biết là hai em mình đi lạc. Hai đứa biết mẹ đi chợ nên dắt nhau đi đón mẹ để lấy quà, nhưng lạc sang xóm khác, rồi không biết đường về nhà. Ông bác họ nhìn thấy hai đứa lếch thếch, mếu máo bên vỉa hè đường cái quan nên xuống hỏi, rồi dắt về. Vừa dắt chúng tới đầu làng thì cũng vừa lúc gặp mẹ đi chợ về. Sau cái hôm đi lạc ấy, chúng không dám đi ra khỏi ngõ khi mẹ không cho phép.

Mới đó mà giờ ba anh em mình cũng đã lớn khôn cả rồi. Mỗi đứa mưu sinh mỗi miền khác nhau. Mình bôn ba tất tả ở Quy Nhơn gần chục năm trời, em kế thì bon chen giữa Hà thành rộng lớn, em út đang công tác ở Đà Nẵng. Hiếm hoi lắm anh em mới có dịp gặp nhau. Có những cái Tết vì lý do công việc cũng không đoàn tụ được. Dù mỗi đứa mỗi phương nhưng anh em rất thương yêu nhau. Mình vẫn thèm cái cảm giác được nằm trong chăn với hai đứa em vào những ngày trời rét trên mảnh đất nghèo xứ Nghệ thương yêu. Anh em kể chuyện cho nhau nghe rồi cười rúc rích…

Đặng Thiên Sơn

Chợ đồng tháng Chạp

images

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã viết một bài thơ rất hay để miêu tả cảnh phiên chợ cuối năm ở làng Vị Hạ, miền chiêm trũng quê ông: “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng/ Năm nay chợ họp có đông không?/ Dở trời, mưa bụi còn hơi rét/ Nếm rượu, tường đền, được mấy ông?/ Hàng quán người về nghe xáo xác/ Nợ nần năm hết hỏi lung tung/ Dăm ba ngày nữa tin xuân tới/ Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” (*). Nhưng đó là bài thơ tả cảnh những phiên chợ quê ngày giáp Tết cách nay đã hơn một trăm năm. Còn quê tôi cách nay độ hơn mười năm những phiên chợ đồng ngày giáp Tết vẫn được họp, kẻ bán người mua nườm nượp, tràn ngập sắc xuân.

Thời ấy, hằng năm cứ vào khoảng 20 tháng Chạp, chợ đồng quê tôi bắt đầu nhóm. Vì đó là thời điểm vụ màu vừa thu hoạch xong, xã chọn những thửa ruộng màu sát trung tâm văn hóa, gần đường cái quan cho phép bà con tiểu thương, những gánh hàng xén được họp chợ tạm thời trên những thửa đất trống. Đây là cách làm nhằm phục vụ lượng người mua sắm tăng đột xuất dịp cuối năm, giảm tải cho chợ chính.

Do là chợ tạm nên không có mái che, mọi thứ hầu như kẻ bán, người mua đều phải tự túc sắm lấy. Thế nhưng, với người dân quê tôi lúc đó, mỗi năm cứ đến dịp chợ đồng nhóm họp là lại nô nức như đi trẩy hội. Năm nào nhà tôi cũng có gánh hàng xén ở chợ đồng, khi thì mẹ bán trái cây, đồ vàng mã, khi thì bán áo, quần, đồ chơi cho trẻ con.

Chúng tôi ra chợ phụ giúp mẹ trông hàng. Mẹ cho chúng tôi tiền để mua sỉ bóng bay về thổi bán lại cho những đứa trẻ đi chơi chợ Tết. Chúng tôi phải tranh thủ buổi tối để thổi bóng, có lúc thổi căng quá, bóng nổ văng vào mặt đau điếng. Nhưng chúng tôi vẫn vui và háo hức lắm. Tiền bán những chiếc bóng bay mẹ tôi không lấy mà cho chúng tôi để mua món đồ mình thích.

Ở chợ đồng, người ta bày bán đủ mọi thứ: quất, đào từ xứ Bắc chuyển vào; hoa từ Đà Lạt chuyển ra; quần áo, giày dép, đồ chơi trẻ con… Có những khu chỉ dành riêng để bày bán câu đối, trướng, tranh ảnh trang trí bàn thờ gia tiên… Ông nội tôi mỗi lần đi chợ đồng, thích nhất là được xin các cụ cao niên trong xã viết cho mấy chữ nho về treo trong phòng đọc, để mỗi khi trà, rượu với bạn hữu lại đem ra luận. Cha tôi sau một hồi thỏa thuê với ván cờ người được tổ chức ngay ngoài rìa chợ cũng vội chen vào dòng người chặt như nêm để mua cho bằng được mấy ký thịt thăn, thịt bắp…

Chỉ mới hơn mười năm, quê tôi đã đổi khác rất nhiều. Giờ đây, những phiên chợ Chạp không còn phải họp tạm ở thửa ruộng nơi cánh đồng sát đường nữa. Xã đã đầu tư xây hẳn cả trung tâm thương mại, đủ sức chứa hàng trăm ki-ốt bán hàng. Người ta đi chợ Tết cũng không còn náo nức như xưa. Những mặt hàng truyền thống cũng vắng bóng dần đi, thay vào đó là hàng nhập khẩu. Trẻ con cũng không còn đăm chiêu bên những chiếc bóng bay, những hàng tò he như chúng tôi ngày nào, mà đòi bố mẹ phải mua những đồ chơi điện tử đắt tiền có hình dáng như chiếc máy tính, điện thoại…

Bước ra khỏi phiên chợ Tết, những hạt mưa xuân lắc rắc trên vai áo tôi. Chợ đồng đã lùi xa vào quá vãng. Bất giác tôi lại lẩm nhẩm trong miệng bài thơ “Chợ Đồng” của Nguyễn Khuyến.

  • ĐẶNG THIÊN SƠN

(*) Bài thơ “Chợ Đồng” của Nguyễn Khuyến, rút từ “Tinh tuyển Văn học Việt Nam”, tập 6, NXB Khoa học – Xã hội, 2004.